Cơ hội và thách thức cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam

Ngày đăng:25-12-2018 (1805 lượt xem )

Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) là phương thức sản xuất đòi hỏi những yêu cầu khắt khe nên thị trường rất hạn chế. Vấn đề quan trọng không phải là chúng ta sản xuất sản phẩm gì mà chúng ta sản xuất để bán cho ai, theo tiêu chuẩn nào và thu nhập cao hơn sản xuất theo phương thức thông thường.

Nhìn vào sự phát triển của NNHC toàn cầu với 178 quốc gia và vùng lãnh thổ có thể thấy rất rõ, thị trường NNHC tập trung ở các nước phát triển, thu nhập cao, còn sản xuất hữu cơ lại chủ yếu ở các nước đất rộng, người thưa, không chịu áp lực về dân số, an ninh lương thực.

Cơ hội phát triển

Cơ hội cho phát triển NNHC ngày càng cao do nhu cầu trong nước và quốc tế tăng mạnh đối với những sản phẩm an toàn. Chính vì vậy một số sản phẩm hữu cơ đã có chỗ đứng vững trên thị trường như rau, chè, thịt hữu cơ... Tuy nhiên có thể nói NNHC vẫn còn chiếm một tỷ trọng rất nhỏ không đáng kể trong tổng sản lượng nông nghiệp. Năm 2016, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam đạt hơn 32,1 tỷ USD, nhiều ngành hàng đứng trong nhóm đầu của thế giới như gạo, cao su, cà fe, hồ tiêu, điều, chè. Tuy nhiên khối lượng sản phẩm hữu cơ rất nhỏ bé, chỉ trên 80 triệu USD hay 0,24% trong tổng kim ngạch nêu trên.

Sắp tới trong chiến lược phát triển nông nghiệp của Việt Nam, duy trì an ninh lương thực quốc gia, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất và tăng thu nhập của người dân là ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên trong quá trình tái cơ cấu nền nông nghiệp, đang có xu hướng giảm diện tích gieo trồng lúa, giảm xuất khẩu gạo để gieo trồng nhiều hơn các giống lúa chất lượng, nâng cao tỷ lệ giống đặc sản, bản địa có chất lượng. Như vậy cơ hội trở lại canh tác hữu cơ với một giống lúa đặc sản bản địa là hữu hiệu. Với điều kiện tự nhiên đa dạng của Việt Nam, NNHC có cơ hội cho ngành hàng rau, nấm, trái cây, dừa, chè, cây gia vị, cây làm thuốc, thủy sản, nuôi ong và một tỷ lệ nhất định với cà phê, hồ tiêu. Một yếu tố rất quan trọng là sự quan tâm của Nhà nước và người dân đối với NNHC đã được nâng lên. Nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư vào sản xuất, chế biến và xuất khẩu sản phẩm NNHC.

Thách thức

Hiện nay, NNHC thực sự là cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam, nhất là khi giá bán các nông sản đang xuống thấp, chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm chưa được kiểm soát hiệu quả. Tuy nhiên sản xuất NNHC ở nước ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức.

Một là, thách thức về an ninh lương thực. Việt Nam là một nước nông nghiệp, đất chật người đông, diện tích đất nông nghiệp trên đầu người chỉ bằng 8,7% trung bình của thế giới. Để đảm bảo an ninh lương thực, Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất là tăng năng suất, mà muốn tăng năng suất thì chỉ có con đường hóa học hóa. Đây cũng là xu thế của các nước phát triển trên thế giới. Theo xu thế này, ngay cả Trung Quốc, một quốc gia được coi là xuất xứ của NNHC truyền thống cũng đã phải giảm dần tỷ trọng của dinh dưỡng từ phân hữu cơ trong tổng lượng dinh dưỡng sử dụng, từ 98,6 (năm 1949), họ đã giảm xuống còn 38% (năm 1990) và hiện tỷ lệ này còn dưới 20%.

Hai là, thách thức về thu nhập, sự phức tạp về quá trình sản xuất và giám sát, chứng nhận. Hiện tại, đa số nông dân chưa muốn chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ do sức hấp dẫn về thu nhập chưa được chứng minh, thị trường không được cam kết. Thêm vào đó, quy trình sản xuất khắt khe, cần thời gian khá dài để cải tạo đất, tạo nguồn nước tưới đáp ứng yêu cầu về chất lượng nên chi phí sản xuất cao.

Ba là thách thức về quản lý. Đến nay, nước ta chưa có khung pháp lý đồng bộ cho sản xuất, chứng nhận và giám sát quá trình sản xuất nên toàn bộ khâu chứng nhận phải thuê nước ngoài, rất tốn kém với quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ của chúng ta.

Bốn là thách thức Quy mô và hiệu quả sản xuất. Phần lớn các doanh nghiệp và hộ sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn nhỏ lẻ, chủ yếu dựa vào các dự án hỗ trợ của Quốc tế, doanh nghiệp. Về tổng thể, chưa có quy hoạch hay định hướng đối tượng cũng như thị trường cho sản phẩm hữu cơ... mọi việc gần như tự phát.

Năm là thách thức về môi trường. Bản thân sử dụng phân hữu cơ liều lượng cao cũng có những nguy cơ gây ô nhiễm môi trường như tích lũy kim loại nặng, vi sinh vật độc hại (trứng giun, E. coli…) hay quá trình phú dưỡng nguồn nước. Hiện nay nhiều người vẫn lầm tưởng rằng chỉ có phân đạm hoá học mới là nguồn gây ô nhiễm nitrat (NO3-). Thực ra, nitrat có thể tạo ra từ hữu cơ đất, phân chuồng, phế phụ phẩm nông nghiệp… Ở Runnels, bang Texas (Mỹ) người ta phát hiện thấy trong nước ngầm tới 3.000 mg NO3-/lít (theo tiêu chuẩn của WHO là 50 mg NO3-/lít) mà nguyên nhân chính là do phân giải chất hữu cơ sau khi cày vùi phế phụ phẩm. Kết quả nghiên cứu của Rothamsted (Anh) cũng có kết luận tương tự: Nguồn NO3- rửa trôi hầu hết là từ chất hữu cơ và tàn dư thực vật. N từ các nguồn này trong chu trình phân giải lại dễ bị rửa trôi và tích luỹ lâu dài hơn từ phân bón vô cơ… Do vậy, việc bón phân hữu cơ, phế phụ phẩm nông nghiệp trong điều kiện nhiệt độ cao, lượng mưa lớn sẽ là nguồn cung cấp NO3- rất lớn.

Vusta.vn

Các tin tức khác:

DANH MỤC
Liên hiệp hội đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba
Slide
Ban Chấp hành khóa IV ra mắt Đại hội
Slide
GS. TSKH Đặng Vũ Minh - Chủ tịch Liên hiệp hội Việt Nam phát biểu chỉ đạo Đại hội
Slide
Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen cho các cá nhân tiêu biểu
Slide
LIÊN KẾT WEBSITE
Thống kê truy cập
  Số người online:  49
  Hôm nay:  825
  Tháng này:  11670
  Tổng số truy cập:  739874